Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011
| |||||||
| | |||||||
| |||||||
| | |||||||
| Ce que c'est que la mort | Cái chết là gì (Người dịch: Thứ Dân) |
| Ne dites pas: mourir; dites: naître. Croyez. On voit ce que je vois et ce que vous voyez; On est l'homme mauvais que je suis, que vous êtes; On se rue aux plaisirs, aux tourbillons, aux fêtes; On tâche d'oublier le bas, la fin, l'écueil, La sombre égalité du mal et du cercueil; Quoique le plus petit vaille le plus prospère; Car tous les hommes sont les fils du même père; Ils sont la même larme et sortent du même oeil. On vit, usant ses jours à se remplir d'orgueil; On marche, on court, on rêve, on souffre, on penche, on tombe, On monte. Quelle est donc cette aube? C'est la tombe. Où suis-je? Dans la mort. Viens! Un vent inconnu Vous jette au seuil des cieux. On tremble; on se voit nu, Impur, hideux, noué des mille noeuds funèbres De ses torts, de ses maux honteux, de ses ténèbres; Et soudain on entend quelqu'un dans l'infini Qui chante, et par quelqu'un on sent qu'on est béni, Sans voir la main d'où tombe à notre âme méchante L'amour, et sans savoir quelle est la voix qui chante. On arrive homme, deuil, glaçon, neige; on se sent Fondre et vivre; et, d'extase et d'azur s'emplissant, Tout notre être frémit de la défaite étrange Du monstre qui devient dans la lumière un ange. | Đừng nói: chết; hãy nói: ra đời. Hãy tin Người ta nhìn thấy điều anh và tôi cùng thấy Người ta xấu như anh và tôi Lao mình vào thú vui, hội hè, gió xoáy Người ta cố quên đi mặt trái, ngày tận thế, thác gành Cố quên sự bình đẳng của chúng sinh về cái chết và áo quan Kẻ hèn mọn nhất cũng sánh ngang người giàu sang nhất Mọi người là hạt lệ trào ra từ cùng một mắt Họ là con của một cha duy nhất Người ta sống, hao phí năm tháng cho tự kiêu Đi, chạy, mơ màng, khom lưng, leo cao, ngã xuống trong khổ đau Vậy cảnh bình minh đó là chi? Là ngôi mộ Ta đang ở đâu? Trong cõi chết. lại đây! Cơn gió lạ Cuốn ta tới ngưỡng trời. Ta run rẩy ngỡ ngàng Tự thấy trụi trần ô uế, xấu xa, gò trói bởi ngàn nút màu tang Sinh ra do lỗi lầm, tội ác, việc làm tối tăm Bỗng ai đó hát trong không gian vô tận Ai đó với ta tỏ ra trân trọng Ta không thấy bàn tay trao tình yêu cho linh hồn ta độc ác Cũng không biết giọng ai đang hát Ta tới nơi là người, là tang, là tuyết, là băng Ta cảm tháy tan ra và sống Lòng tràn mê ly và thiên thanh Của quái vật trở thành thiên thần trong ánh sáng |
Là người đại diện cuối cùng của trường phái cổ điển thành Vienna, nhà soạn nhạc thiên tài người Đức Ludwig van Beethoven đã có những đóng góp vĩ đại vào tiến trình phát triển của âm nhạc cổ điển thế giới. Không có một di sản đồ sộ về số lượng như các bậc tiền bối của trường phái cổ điển thành Viên Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791) hay Joseph Haydn (1732 – 1809) nhưng Beethoven đã đem đến cho thế giới âm nhạc một phong cách mới, phong cách anh hùng ca rực lửa và tràn ngập tinh thần tranh đấu, vươn tới tự do cùng những cách tân vĩ đại. Với sự cải cách mạnh mẽ về nội dung lẫn hình thức, ở hầu hết các thể loại âm nhạc như sonata, concerto và giao hưởng, Beethoven đều để lại dấu ấn thiên tài của mình. Cả cuộc đời của ông thực sự là bản anh hùng ca của một con người có nghị lực phi thường vượt qua mọi khó khăn, thử thách và chiến thắng bệnh tật. Ludwig van Beethoven sinh ra trong một gia đình nghệ thuật. Ông nội của nhà soạn nhạc thiên tài, Ludwig van Beethoven, giữ chức nhạc trưởng của nhà hát cung đình Bonn. Cha của nhạc sỹ, Johann van Beethoven, cũng là thành viên của dàn nhạc cung đình và là một bợm nhậu. Chính tật xấu này của Johann đã dìm gia đình ông và tuổi thơ Beethoven lâm vào cảnh địa ngục. Sau cái chết của người ông và sự nghiện ngập của người cha, gia đình lâm vào cảnh túng thiếu nghiêm trọng, Beethoven đành phải thôi học từ rất sớm. Chính vì vậy, sau này, khi lớn lên, Beethoven đã nỗ lực học và tự học rất nhiều để tự bù đắp kiến thức cho mình. Tuy nhiên, trong cái rủi có cái may, do sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, Beethoven được học nhạc từ nhỏ. Dù được giảng dạy một cách tuỳ hứng trong roi vọt, tài năng thiên bẩm đã khiến cậu bé Beethoven biết chơi thành thạo đàn clavecin, violin, flute... Buổi biểu diễn đầu tiên của Beethoven trước khán giả thành Bonn là vào ngày 26-3-1778 với một bản concerto cho đàn clavecin. Sự nghèo túng luôn là bạn đồng hành với Beethoven trong những năm tháng trưởng thành. Ngoài việc chơi cho dàn nhạc cung đình, ông phải đi dạy học để kiếm tiền nuôi gia đình. Tuy vậy, những ước mơ về một chân trời âm nhạc mới mẻ ngoài phạm vi thành Bonn vẫn không ngừng thôi thúc ông tìm đến với thành Vienna, học hỏi những nhà soạn nhạc danh tiếng. Mùa xuân năm 1787, chàng nhạc sỹ thành Bonn đã đến đây để tìm gặp Mozart và đáng tiếc là chỉ được gặp Mozart một lần duy nhất. Sau khi nghe Beethoven chơi ngẫu hứng bên phím piano, Mozart đã choáng váng trước tài nghệ phi thường: “Hãy nhìn kỹ chàng trai này, rồi cả thế giới sẽ phải nói về anh ta”. Điều đáng buồn là cuộc gặp gỡ giữa hai con người thiên tài này chỉ diễn ra ngắn ngủi bởi Beethoven phải vội vã rời Vienna về Bonn vì mẹ bị ốm nặng. Cái chết của người mẹ hiền hậu, nhẫn nại đã không chỉ khiến Beethoven rơi vào tình trạng tuyệt vọng mà còn kéo theo sự sụp đổ của gia đình, vốn luôn luôn được bà mẹ dày công vun đắp. May mắn cho Beethoven và cũng cho nhạc cổ điển bởi trong những năm tháng này, Beethoven đã có được sự nâng đỡ tinh thần từ hai người bạn tốt như Stephan von Breuning và Franz Wegeler, những người sẽ tận tụy gắn bó cả cuộc đời với ông. Thông qua mối quan hệ bè bạn này, Beethoven đã tiếp xúc với giới trí thức thành Bonn, mở con đường lớn đưa ông đến với văn học cổ điển Đức, văn học Hy Lạp cổ đại, văn học Anh. Beethoven đặc biệt say mê và chịu ảnh hưởng lớn của Homero với các bản trường ca “Iliad”, “Odisea”, Plutarque với “Tiểu sử các danh nhân” và William Shakespeare với các vở kịch nổi tiếng của ông. Hai nhà thơ Đức đương thời là Goethe và Schiller cũng chinh phục được Beethoven. Song song với quá trình sáng tác, Beethoven còn theo học các nhạc sỹ danh tiếng của thành Vienna để củng cố và hệ thống lại kiến thức âm nhạc của mình. Trong số các người thầy đáng kính ấy thì, nhà soạn nhạc vĩ đại Haydn, cha đẻ của giao hưởng, đóng vai trò quan trọng. Cũng phải nói thêm là đây cũng là thời kỳ sáng tác rực rỡ của Haydn nên nhà soạn nhạc già này đã không có nhiều thời gian dành cho Beethoven. Tuy nhiên, với vai trò của người đi trước, Haydn đã đưa ra những nhận xét xác đáng và những lời khuyên qúy báu về các tác phẩm mới sáng tác của Beethoven. Có một giai thoại kể lại rằng, khi Beethoven hỏi ý kiến thầy về các tác phẩm của mình, Haydn đã thốt lên sau những phút trầm tư suy nghĩ: “Anh gây cho tôi cảm tưởng về một con người có mấy cái đầu, mấy trái tim và mấy linh hồn”. Khi đã ổn định được cuộc sống và học tập thêm về âm nhạc, Beethoven bắt đầu ra mắt công chúng thành Vienna và nhanh chóng nhận được sự chú ý đặc biệt. Nhiều nhà hoạt động nghệ thuật cũng đánh giá cao tài năng của ông và hào hứng cho rằng: “Người nghệ sỹ này đã bù đắp cho chúng ta sự tổn thất sau cái chết của Mozart”. Không chỉ sáng tác, Beethoven còn là người đầu tiên đưa ra một phong cách mới trong nghệ thuật chơi piano: phong cách anh hùng ca. Sự hoàn chỉnh về nội dung và hình thức của khúc mở màn cho vở ballet “The Creatures of Prometheus” đã đưa overture trở thành một tác phẩm khí nhạc độc lập, tiền thân của loại tác phẩm giao hưởng một chương, giao hưởng có tiêu đề sau này. Riêng về sonata, Beethoven đã đem lại cho thể loại này một tầm vóc mới. Trước đây, các bậc tiền bối của ông đã sáng tạo ra thể loại sonata chưa có sự tương phản lớn giữa các chương và bản thân trong một chương cũng chưa thể hiện sự phát triển rõ nét giữa các chủ đề. Về sự sáng tạo của Beethoven ở thể loại sonata, các nhà hoạt động âm nhạc sau này đã cho rằng, Beethoven đã làm rõ phần triển khai cơ cấu các chủ đề, phân tích và tổng hợp các nét đấu tranh kịch tính, mạnh mẽ để tạo nên phần trung tâm của tác phẩm. Beethoven còn sáng tạo ra phần coda (phần kết) với nhiệm vụ là tổng kết tác phẩm bằng những nét chấm phá đầy rõ nét. Với tính chất kịch tính cao, thể hiện không chỉ giữa các chương mà phản ánh được sự phát triển nội tại trong từng chương này, Beethoven đã tạo ra sự phát triển mới về cả về nghệ thuật và tư tưởng trong các tác phẩm âm nhạc thính phòng. Tài năng của Beethoven đã được khẳng định và một tương lai rực rỡ đã đến với nhà soạn nhạc thiên tài này. Khi người ta những tưởng bước đường nghệ thuật và cuộc sống riêng tư của Beethoven sẽ suôn sẻ thì bất hạnh đã đổ ụp xuống đầu ông. Lần này, không phải là sự túng quẫn về tài chính mà lại là bệnh tật. Căn bệnh điếc đáng nguyền rủa đã trở thành vật ngăn cách ông với tất cả. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về căn bệnh kỳ lạ này ở người nhạc sỹ thiên tài và lý giải nguồn gốc căn bệnh. Đến nay, có nhiều cách lý giải căn bệnh này của ông, một trong những cách đó là việc tập trung cao độ trong quá trình sáng tác chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn bệnh điếc của Beethoven. Điều đau xót hơn cả với nhạc sỹ là trước khi mắc căn bệnh này, ông có thính giác tinh tường, nhạy cảm đến mức hiếm có. Nỗi thống khổ về bệnh tật đã hành hạ ông và dẫn đến sự tuyệt vọng. Thậm chí, ông đã nghĩ đến việc tự tử. Tất cả những dằn vặt, đau đớn, đấu tranh nội tâm của nhà soạn nhạc được thể hiện qua bản di chúc Heiligenstadt nổi tiếng viết vào tháng 10-1802. Tuy nhiên, chiến thắng được bản thân, ý chí và nghị lực của Beethoven đã đưa ông đến với những thành công mới với những tác phẩm in đậm những phẩm chất tốt đẹp này. Ngay từ lời đề tựa bản giao hưởng số 2 giọng Rê trưởng op 36 đã cho thấy rõ điều đó: “Tôi muốn nắm lấy cổ số mệnh. Tuyệt vời biết bao nếu như ta có thể sống ngàn lần cuộc sống này!”. Tiếp sau thành công của bản giao hưởng số 3 là những chùm tác phẩm chói sáng của Beethoven với các bản giao hưởng được liệt vào hàng kinh điển trong kho tàng âm nhạc giao hưởng thế giới với các thể loại: kịch tính, bi kịch, ngợi ca thiên nhiên, sử thi: giao hưởng số 4 giọng Si giáng trưởng được nhạc sỹ Schumann ví như “cô gái Hy Lạp mảnh dẻ giữa hai người khổng lồ phương Bắc”, giao hưởng 5 giọng Đô thứ được mệnh danh là giao hưởng định mệnh, giao hưởng số 6 giọng Fa trưởng "Pastorale" được gọi là bản giao hưởng đồng quê, giao hưởng số 7 giọng La trưởng, giao hưởng số 8 giọng Pha trưởng và đỉnh cao giao hưởng số 9 giọng Rê thứ. Có câu chuyện về bản giao hưởng số 9 rằng nếu có người ngoài trái đất nào tới thăm hành tinh xanh của chúng ta thì để giải thích về con người, chỉ cần cho họ nghe bản giao hưởng số 9 này. Câu chuyện này đã nói lên được tính chất sử thi, tầm vóc và quy mô của tác phẩm. Có thể nói bước tiến về nghệ thuật của Beethoven là kết quả của quá trình học hỏi không mệt mỏi trong những năm tháng ở thành Vienna và cũng như sự chín muồi về tư tưởng của ông. Sâu xa hơn, đó còn là kết quả của quá trình phát triển âm nhạc giao hưởng mà các bậc tiền bối đã gây dựng lên, trong đó có sự phát triển của dàn nhạc giao hưởng, yếu tố giúp thể hiện các ý tưởng âm nhạc của ông. Về xã hội, tác động mạnh mẽ nhất đến Beethoven giai đoạn này là vẫn là luồng tư tưởng do cuộc cách mạng 1789 đem lại. Tuy Napoleon đã phản bội lại cách mạng song lý tưởng về một xã hội con người với con người sống trong tự do, bình đẳng, bác ái vẫn rực sáng trong ông. Sẽ là không đầy đủ nếu không nhắc đến vị trí của các bản overture và 5 bản concerto cho piano với dàn nhạc, 1 bản concerto bộ ba cho piano, violin và cello, bản concerto duy nhất viết cho violin và dàn nhạc trong sự nghiệp âm nhạc của Beethoven. Với sức biểu đạt mạnh như một bản giao hưởng, các tác phẩm này của ông được đánh giá cao bởi sự súc tích, cô đọng, tính khái quát và mối quan hệ chặt chẽ giữa các chủ đề. Bằng tài năng của mình, Beethoven đã chứng minh rằng với những thể loại tác phẩm khí nhạc có quy mô nhỏ cũng có sức sống và tầm vóc như các tác phẩm lớn. Đây sẽ là tiền đề cho các nghệ sỹ thế hệ sau không tiếp tục khai phá để cho ra đời nhiều thể loại mới, làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc cổ điển. Riêng bản concerto cho violin duy nhất của ông cũng trở thành bản concerto kinh điển cho thể loại này. Cả cuộc đời của Beethoven là quá trình học tập, sáng tác không mệt mỏi và chiến đấu vượt qua số phận, qua những đắng cay thử thách của cuộc đời. Trong những ngày cuối đời, trên giường bệnh, ông vẫn không nguôi nghiền ngẫm đến đề tài của bản giao hưởng số 10. Dự định này đã mãi mãi không thể thực hiện được bởi trái tim nhà soạn nhạc thiên tài đã vĩnh viễn ngừng đập vào ngày 26-3-1827. Ông mất đi để lại một khoảng trống không dễ lấp đầy trong âm nhạc. Không chỉ thành Vienna mà cả thế giới âm nhạc rơi lệ tiễn đưa người anh hùng... Beethoven tuy không còn nữa nhưng với những người yêu nhạc cổ điển thì hình ảnh Beethoven với ánh mắt rực lửa, đầy thách thức trên gương mặt cương nghị đang sải những bước dài mạnh mẽ, cương quyết vẫn còn đó trong âm nhạc và cuộc đời. link: CD 1 & 2 : http://www.mediafire.com/?eg5vj4hbe1mlh2u CD 3 & 4 : http://www.mediafire.com/?nldt53f47bpp294 CD 5 & 6 : http://www.mediafire.com/?mi8c93e8724ckg1 CD 7 & 8 : http://www.mediafire.com/?i3hjg4354kc7a43 CD 9 & 10: http://www.mediafire.com/?jmnd71lg2pt98ly |
| L'âme du vin | Hồn rượu (Người dịch: Hải Đà) |
| Un soir, l'âme du vin chantait dans les bouteilles: ”Homme, vers toi je pousse, ô cher déshérité, Sous ma prison de verre et mes cires vermeilles, Un chant plein de lumière et de fraternité! Je sais combien il faut, sur la colline en flamme, De peine, de sueur et de soleil cuisant Pour engendrer ma vie et pour me donner l'âme; Mais je ne serai point ingrat ni malfaisant, Car j'éprouve une joie immense quand je tombe Dans le gosier d'un homme usé par ses travaux, Et sa chaude poitrine est une douce tombe Où je me plais bien mieux que dans mes froids caveaux. Entends-tu retentir les refrains des dimanches Et l'espoir qui gazouille en mon sein palpitant? Les coudes sur la table et retroussant tes manches, Tu me glorifieras et tu seras content; J'allumerai les yeux de ta femme ravie; A ton fils je rendrai sa force et ses couleurs Et serai pour ce frêle athlète de la vie L'huile qui raffermit les muscles des lutteurs. En toi je tomberai, végétale ambroisie, Grain précieux jeté par l'éternel Semeur, Pour que de notre amour naisse la poésie Qui jaillira vers Dieu comme une rare fleur !” | Một chiều hồn rượu hát ca vang Gửi người cô thế, kẻ gian nan Từ nơi ngục kiếng viền xi đỏ Rực sáng bài ca nghĩa bạn vàng Trên đồi rực lửa tốn bao công Nắng vã mồ hôi ướt chảy ròng Sinh sản hồn ta, đời sống mới Ta không bất nhẫn, bạc ơn lòng Sung sướng là bao lúc rót vào Tràn nơi cuống họng kẻ cần lao Êm đềm ngực ấm là ngôi mộ Thoát chốn hầm sâu lạnh xiết bao Chủ nhật ngồi nghe điệp khúc vui Phập phồng hy vọng ngực chơi vơi Xắn tay áo dựa trên bàn rượu Ta được vinh danh, thỏa mãn người Đôi mắt vợ ngươi thắp sáng ngời Con người khoẻ mạnh sắc hồng tươi Cho chàng lực sĩ dầu xoa bóp Bắp thịt phồng căng đấu đã đời Cao lương mỹ vị rước ta vào Hạt giống vĩnh hằng được ném trao Lộng lẫy tình ta thơ nở rộ Đoá hoa kỳ diệu ngút trời cao |
| La vie est une fleur | Cuộc đời là một đoá hoa Người dịch: Tường Vân |
| La vie est une fleur espineuse et poignante, Belle au lever du jour, seiche en son occident; C'est moins que de la neige en l'esté plus ardent, C'est une nef rompue au fort de la tourmente. L'heur du monde n'est rien qu'une roue inconstante, D'un labeur eternel montant et descendant; Honneur, plaisir, profict, les esprits desbordant, Tout est vent, songe et nue et folie evidente. Las! c'est dont je me plains, moy qui voy commencer Ma teste à se mesler, et mes jours se passer, Dont j'ay mis les plus beaux en ces vaines fumées; Et le fruict que je cueille, et que je voy sortir Des heures de ma vie, helas! si mal semées, C'est honte, ennuy, regret, dommage et repentir. | Đời gai góc tựa hoa buồn Bình minh lộng lẫy hoàng hôn ủ sầu Tuyết băng mùa hạ khác đâu Gió cuồng phá một con tàu khác chi Chuyện đời như một bánh xe Vần xoay vĩnh viễn đi về đổi thay Lợi danh, dục vọng khát say Cũng là giấc mộng, gió, mây điên rồ Ôi! dầu tôi loạn giấc mơ Buồn như mây khói, ngày giờ trôi suông Đời tôi một giấc hoàng lương Ngẫm ra chỉ thấy chán chường nhớ nhung Chỉ toàn hối tiếc mông lung Buồn đau, khổ nhục vô cùng mà thôi |
| Le coucher du soleil romantique | Buổi chiều tà của mặt trời lãng mạn |
| Que le soleil est beau quand tout frais il se lève, Comme une explosion nous lançant son bonjour! — Bienheureux celui-là qui peut avec amour Saluer son coucher plus glorieux qu'un rêve! Je me souviens!... J'ai vu tout, fleur, source, sillon, Se pâmer sous son oeil comme un coeur qui palpite... — Courons vers l'horizon, il est tard, courons vite, Pour attraper au moins un oblique rayon! Mais je poursuis en vain le Dieu qui se retire; L'irrésistible Nuit établit son empire, Noire, humide, funeste et pleine de frissons; Une odeur de tombeau dans les ténèbres nage, Et mon pied peureux froisse, au bord du marécage, Des crapauds imprévus et de froids limaçons. | Ôi! đẹp sao mặt trời khi ban mai hồng tươi mọc Như ánh sáng nổ tung, chào hỏi chúng ta Sung sướng thay ai có thể say mê khao khát Chào hỏi hoàng hôn rực rỡ hơn giấc mơ Tôi nhớ lại!... Tôi đã thấy tất cả, hoa, suối, cánh đồng Như một trái tim phập phồng, dưới ánh mặt trời rung động... - Chạy mau đến chân trời, đã muộn rồi, ta hãy nhanh chân Để níu, ít ra, một vài tia nắng quái! Nhưng vô ích, đuổi chẳng được vị thần kia đã buộc Đêm sâu mãnh liệt tiến lên, chiếm cả bầu trời Đầy tai hoạ, rùng mình, tối đen, ẩm ướt Một cái mùi chết chóc, từ đáy mả bốc lên Và bàn chân ta rụt rè, trên miệng đầm lầy bẩn thỉu Chạm bất ngờ những con ốc, con sên lạnh lẽo |
| L'albatros | Chim hải âu (Người dịch: Phạm Nguyên Phẩm) |
Souvent, pour s’amuser, les hommes d’équipage Prennent des albatros, vastes oiseaux des mers, Qui suivent, indolents compagnons de voyage, Le navire glissant sur les gouffres amers. À peine les ont-ils déposés sur les planches, Que ces rois de l’azur, maladroits et honteux, Laissent piteusement leurs grandes ailes blanches Comme des avirons traîner à côté d’eux. Ce voyageur ailé, comme il est gauche et veule ! Lui, naguère si beau, qu’il est comique et laid ! L’un agace son bec avec un brûle-gueule, L’autre mime, en boitant, l’infirme qui volait ! Le Poète est semblable au prince des nuées Qui hante la tempête et se rit de l’archer ; Exilé sur le sol au milieu des huées, Ses ailes de géant l’empêchent de marcher. | Người thuỷ thủ thường hay đùa bỡn Bắt hải âu chim lớn biển xanh Vô tư người bạn đồng hành Theo tàu lướt sóng băng mình vực sâu Vừa được xuống sàn tàu bằng gỗ Chúa trời mây xấu hổ vụng về Kéo đôi cánh trắng to bè Như đôi chèo rộng lê thê bên mình Mới vừa rồi dáng hình đẹp đẽ Giờ trông sao xấu xí kỳ khôi Người cầm tẩu gõ chim chơi Kẻ thời bắt chước chim trời què chân Thi sĩ giống vua ngàn mây gió Khoái phong ba cung nỏ xá chi Lưu đầy giữa tiếng cười chê Mang đôi cánh rộng khó bề bước đi. |
| Spleen | Chán đời (Người dịch: Hải Đà) |
| Quand le ciel bas et lourd pèse comme un couvercle Sur l'esprit gémissant en proie aux longs ennuis, Et que de l'horizon embrassant tout le cercle Il nous verse un jour noir plus triste que les nuits ; Quand la terre est changée en un cachot humide, Où l'Espérance, comme une chauve-souris, S'en va battant les murs de son aile timide Et se cognant la tête à des plafonds pourris ; Quand la pluie étalant ses immenses trainées D'une vaste prison imite les barreaux, Et qu'un peuple muet d'infâmes araignées Vient tendre ses filets au fond de nos cerveaux, Des cloches tout à coup sautent avec furie Et lancent vers le ciel un affreux hurlement, Ainsi que des esprits errants et sans patrie Qui se mettent à geindre opiniâtrement. - Et de longs corbillards, sans tambours ni musique, Défilent lentement dans mon âme; l'Espoir, Vaincu, pleure, et l'Angoisse atroce, despotique, Sur mon crâne incliné plante son drapeau noir. | Trời trũng thấp như chiếc vung nặng trĩu Đè lên hồn rền rĩ nỗi buồn dai Xiết vòng quanh là chân trời vây kín Rót ngày đen sầu thảm hơn đêm dài Mặt đất biến thành nhà tù ẩm thấp Nơi chốn mà Cuồng Vọng tựa cánh dơi Bức tường ngăn rụt rè đôi cánh đập Chạm đầu va trần mục nát tả tơi Từng vạt lớn cơn mưa tràn vung vãi Tựa khung tù song sắt rộng thênh thang Ghê gớm quá lặng câm nhìn đàn nhện Tận óc mình thả lưới bủa vây giăng Trong bất chợt cỗ chuông reo phẩn nộ Thất kinh người tiếng hú vọng lên trời Không tổ quốc tựa linh hồn lang bạt Phàn nàn than dai dẳng chẳng ngừng thôi Đoàn xe tang chạy dài không chiêng trống Qua hồn tôi bước chậm.. Hy Vọng tàn … Òa lên khóc, Kinh Hoàng và áp chế Trên đầu tôi nghiêng gục cắm cờ đen .. |
| |||||||
| | |||||||
Ôi nước Nga thân thiết của tôi ơi | Charles Baudelaire, Pháp Le mort joyeux | Người chết vui mừng (Người dịch: Lê Trọng Bổng) |
| Dans une terre grasse et pleine d'escargots Je veux creuser moi-même une fosse profonde, Où je puisse à loisir étaler mes vieux os Et dormir dans l'oubli comme un requin dans l'onde. Je hais les testaments et je hais les tombeaux; Plutôt que d'implorer une larme du monde, Vivant, j'aimerais mieux inviter les corbeaux À saigner tous les bouts de ma carcasse immonde. Ô vers! noirs compagnons sans oreille et sans yeux, Voyez venir à vous un mort libre et joyeux; Philosophes viveurs, fils de la pourriture, À travers ma ruine allez donc sans remords, Et dites-moi s'il est encor quelque torture Pour ce vieux corps sans âme et mort parmi les morts! | Ta muốn tự mình đào Một cái hố thật sâu Trên mảnh đất màu mỡ Lúc nhúc ốc sên này Để có được một chỗ Mà mặc sức phô bày Hài cốt mình vào đó Rồi ngủ trong lãng quên Giống như chú cá mập Giữa làn nước lặng yên Ta ghét các di chúc Ta ghét các nấm mồ Ta không ưa lạy lục Xin nước mắt thế gian Chẳng thà khi còn sống Ta mời đám quạ đen Tới tha hồ mổ lên Cái bộ xương uế tạp Cho chảy máu triền miên Ôi, ôi các chú giun Đám bạn bè hiểm độc Không mắt lại không tai Thấy được chăng chẳng biết Có kẻ đang đến cùng Đó là một người chết Tự do và vui mừng Hỡi triết gia ăn chơi Con cưng của rữa nát Đừng ăn năn gì sất Khi qua tấm thân tàn Hãy nói liệu có còn Cuộc tra tấn nào khác Lên thân già không hồn Và chết giữa người chết |
Cây liễu Alfred de Musset
| Le saule (extrait) | Cây liễu (trích) (Người dịch: Phạm Nguyên Phẩm) |
| Pâle étoile du soir, messagère lointaine, | Hỡi sứ giả phương xa, ngôi sao Hôm mờ nhạt |
| La mort des pauvres | Cái chết của người nghèo (Người dịch: Trần Mai Châu) |
C’est la Mort qui console, hélas ! et qui fait vivre ; C’est le but de la vie, et c’est le seul espoir Qui, comme un élixir, nous monte et nous enivre, Et nous donne le cœur de marcher jusqu’au soir ; À travers la tempête, et la neige, et le givre, C’est la clarté vibrante à notre horizon noir ; C’est l’auberge fameuse inscrite sur le livre, Où l’on pourra manger, et dormir, et s’asseoir ; C’est un Ange qui tient dans ses doigts magnétiques Le sommeil et le don des rêves extatiques, Et qui refait le lit des gens pauvres et nus ; C’est la gloire des Dieux, c’est le grenier mystique, C’est la bourse du pauvre et sa patrie antique, C’est le portique ouvert sur les Cieux inconnus ! | Cái chết vỗ về và giúp ta sống được Đó là đích cuộc đời, là hy vọng chứa chan Như rượu ngọt làm hồn ta say khướt, Để vững tâm đi đến lúc chiều tàn. Qua sương tuyết, qua giá băng, bão tố, Là ánh sáng rung rinh ở tận cuối chân trời, Là quán trọ từng ghi trong sách cũ, Nơi con người được ăn, ngủ, nghỉ ngơi. Là thiên thần với đôi tay ảo diệu Chắp cánh hồng cho mộng ngạt ngào hương, Dẹp cảnh cơ hàn, xoá đi tăm tối; Là hào quang các thánh, là lúa, gạo, bạc vàng, Của kẻ nghèo, là quê hương cổ đại, Trời lạ kì là cửa mở thênh thang! |
| Charles Baudelaire, Pháp À une mendiante rouss | Gửi cô gái ăn xin tóc hung (Người dịch: Lê Trọng Bổng) |
| Blanche fille aux cheveux roux, Dont la robe par ses trous Laisse voir la pauvreté Et la beauté, Pour moi, poète chétif, Ton jeune corps maladif, Plein de taches de rousseur, A sa douceur. Tu portes plus galamment Qu'une reine de roman Ses cothurnes de velours Tes sabots lourds. Au lieu d'un haillon trop court, Qu'un superbe habit de cour Traîne à plis bruyants et longs Sur tes talons; En place de bas troués, Que pour les yeux des roués Sur ta jambe un poignard d'or Reluise encor; Que des noeuds mal attachés Dévoilent pour nos péchés Tes deux beaux seins, radieux Comme des yeux; Que pour te déshabiller Tes bras se fassent prier Et chassent à coups mutins Les doigts lutins, Perles de la plus belle eau, Sonnets de maître Belleau Par tes galants mis aux fers Sans cesse offerts, Valetaille de rimeurs Te dédiant leurs primeurs Et contemplant ton soulier Sous l'escalier, Maint page épris du hasard, Maint seigneur et maint Ronsard Épieraient pour le déduit Ton frais réduit! Tu compterais dans tes lits Plus de baisers que de lis Et rangerais sous tes lois Plus d'un Valois! - Cependant tu vas gueusant Quelque vieux débris gisant Au seuil de quelque Véfour De carrefour; Tu vas lorgnant en dessous Des bijoux de vingt-neuf sous Dont je ne puis, oh! pardon! Te faire don. Va donc! sans autre ornement, Parfum, perles, diamant, Que ta maigre nudité, Ô ma beauté! | Da trắng, mái tóc hung Áo em rách từng chỗ Phơi trần cảnh nghèo khổ Cùng nét đẹp ngời ngời Tấm thân non gầy yếu Làn da có nốt hoe Chàng thi sĩ xác ve Thấy dịu dàng lắm đó Bà hoàng trong tiểu thuyết Mang giày cao gót nhung Em còn lịch sự hơn Với đôi chân xỏ guốc Thay vì tổ đỉa ngắn Ước gì áo đại trào Nếp lướt thướt ồn ào Phủ đôi gót xinh xắn Thay vì đôi tất thủng Ước có dao găm vàng Nơi cặp giò sáng choang Nản lòng quân trác táng Ước gì nơ cài lơi Cho tội lỗi được gặp Cặp tuyết lê tuyệt vời Rạng ngời như đôi mắt Ước tay em làm cao Bằng cú đánh phản đối Ngón tay tinh nghịch nào Cầm khuy áo định cởi Những ngọc trai rực rỡ Thơ của thầy Belleau Đám tình nhân thúc thủ Đem biếu em tha hồ Đầy tớ bọn thợ thơ Đề tặng em cái mới Mà mắt nhìn không mỏi Giày em dưới cầu thang Bao thị đồng mạo hiểm Bao lãnh chúa, bao Ronsard Rình góc nhà mát lịm Hòng tính chuyện trăng hoa Trên giường em đếm được Nụ hôn nhiều hơn hoa Và ra luật kiểm soát Đến mấy vua Valois - Lúc này em ngửa tay Xin đồ thừa vương vãi Nơi ngưỡng cửa nhà ai Ngã tư người qua lại Em liếc chùm nữ trang Giá hăm chín xu chẵn Mà anh đành đứng lặng Không có tiền mua tặng Xin lỗi em ngàn lần Em ơi, cứ cất bước Cần gì đồ trang sức Ngọc quý hay hương thơm Ngoài thân trần gầy nhom Mà lòng anh thấy đẹp |